Tôi thích viết lách, vậy mà hôm nay - khi được gặp người Cựu chiến binh ấy, được nghe ông kể chuyện chiến trường bằng giọng trầm ấm và chân chất - tôi lại bỗng ngập ngừng. Sợ viết không đủ, sợ những câu chữ của mình không chuyển tải hết vẻ đẹp của một con người đã đi qua mưa bom bão đạn, sợ không đủ làm nhịp cầu nối thế hệ trẻ hôm nay với quá khứ cha anh.
Tuy nhiên tôi cần phải viết, bởi tôi còn nợ phần trả lời cho câu hỏi của những bạn trẻ từng xem phim Mưa Đỏ , từng cùng tôi rơi nước mắt trước sự khốc liệt trần trụi của chiến tranh : Chiến trường Quảng Trị, quê mình có ai tham dự không?
Vâng, trong làng Hoàng Lâu của tôi thời kháng chiến chống Mỹ, nhà ai cũng có người đi bộ đội. Vào Quảng Trị và về từ Quảng Trị có 6 người : Ông Lê Văn Túy, Ông Lê Văn Tọa, ông Cao Đức Thọ, Ông Nguyễn Văn Thành, ông Đoàn Văn Chuyển, và người đàn ông hiền hậu, nho nhã đang tiếp chuyện tôi : Ông Ngô Xuân Nuồi. Dưới sự gợi chuyện tha thiết của tôi, ông kể:
- Năm 1968 chú đăng kí đi bộ đội , bị cô ruột của chú vác đòn gánh đuổi đánh khắp làng.
Như đoán được sự băn khoăn từ phía người đối diện, ông giải thích : Vì bà có con trai và con rể vừa hy sinh trong chiến trường Miền Nam, mà chú là cháu trưởng của dòng họ, còn chưa tròn 17 tuổi, chưa đến tuổi nhập ngũ. Bà sợ cháu mình cũng … đi nốt
Nhưng chàng trai 16 tuổi ấy vẫn quyết tâm lên đường theo tiếng gọi của đoàn quân lấp lánh ánh sao vàng. Cuối năm 1971, chàng trai ấy đi B.
- Ờ... mà chú cũng không có nhiều chuyện để kể đâu, mình có đáng là gì so với toàn dân tộc và những người không về được nữa - chú trầm lắng .
- Dạ chú, chú xem phim “Mưa đỏ”chưa ạ ? - Tôi đành chuyển chủ đề - Ông gật đầu, mắt chợt đỏ hoe. Được gợi đúng mạch cảm xúc ,ông kể tiếp:
Hành quân vào chiến trường – những ngày đầu khó quên
- Chú là trung đội phó Trung đội thông tin- Tiểu đoàn I- Sư đoàn 325- Binh đoàn Hương Giang. Trước đó Để vào đến chiến trường Quảng Trị, đơn vị chú vừa hành quân vưa học. Các chú ăn toàn cơm nắm , đồ hộp xót ruột lắm. Cậu anh nuôi toàn lén mang đổi đồ của đơn vị cho dân lấy thực phẩm, rau xanh. Khi thì cái nồi, lúc cái chảo, đường đi càng dài thì đồ đạc càng vơi, ngay cả cái chăn đăp cũng không còn. Chú phê bình, cậu ấy chỉ cười bảo: “Vào chiến trường anh em mình lại chia nhỏ, mỗi đứa một nơi, đồ đạc có giữ lại cũng không biết chia thế nào, cứ để em đổi, nhìn anh em gầy gò thế này, xót lắm”.
Cũng nhờ vậy mà các chú có bữa ăn ngon nhất, hơn năm mươi năm rồi vẫn không thấy món nào lạ như thế : Cây chuối rừng nấu ruốc cá viện trợ . Nó vụn tơi, xỉn nâu như bủi cám, nấu lẫn với cây chuối thái nhỏ. Lúc bưng cả đội chảy nước mắt vì nhớ nhà. Có lẽ rồi ăn rất ngon - thứ ngon của tình đồng đội giữa rừng sâu đạn lửa.
Những ngày giữa “cối xay thịt”
Tuổi 20,cao gầy và thư sinh trắng trẻo ( Là tôi nhìn ông lúc bây giờ để đoán như vậy), anh lính trẻ Ngô Xuân Nuồi bổ xung vào trung đội của Liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc - tác giả cuốn nhật ký “ Sống Mãi tuổi 20”. Người này ngã xuống, người khác xông lên, mặc mưa bom bão đạn, mạch máu thông tin vẫn phải thông suốt. Với vai trò Trung đội trưởng thông tin, anh luôn phải túc trực bên đầu não chỉ huy của mặt trận.
- Trong chiến trường chú có kỉ niệm nào không ạ? - Ông không trả lời ngay, ánh mắt chợt xa xăm.
Tôi bỗng thấy mình thật quá ngây ngô. Tám mươi ngày đêm nơi “cối xay thịt” chả lẽ không có gì là kỉ niệm. Nhưng như lời ông từng bộc bạch: Chú là một người lính, cả đất nước đâu đâu cũng có màu áo lính, đâu đâu cũng là hy sinh và xương máu đổ xuống. Cái riêng hòa vào cái chung, lịch sử đã ghi lại rồi.
- Vâng chú! Cháu đã thấy trên phim ảnh những đường dây thông tin nằm trên vũng máu sánh đặc như nhựa đường, thấy người lính liên lạc dẫu nát đôi chân vẫn cố bò lên chốt để truyền tin.
Ông ngậm ngùi: Đúng vậy, trung đội chú có 4 tiểu đội, máy móc thông tin là điện thoại,vô tuyến, đạn bom oanh tạc hỏng liên tục nên truyền đạt chạy bằng sức người, cái sống cái chết chỉ xảy ra trong tích tắc, nếu không truyền lệnh của chỉ huy kịp thời thì hậu quả vô cùng tàn khốc.
***Sáng kiến: Lấy máy địch đánh địch
Để bảo đảm thông tin thông suốt, trong chiến dịch mùa xuân 1975 ông đã cho chiến sĩ thu nhặt máy thông tin vô tuyến của địch để thay máy hữu tuyến của ta rồi mã hóa thông tin bằng tiếng lóng
- Mới dùng cũng nhiều chuyện buồn cười lắm! – ông cười, đôi mắt trẻ lại.
Có anh báo qua bộ đàm: “Khẩn! Phía bờ biển có 5 con cua đang bò lên, trong đó có một con đứt xích!”
Cua mà đứt xích! Khi chú họp, chú nhắc lại, Cả trung đội cũng không nín được cười
- Nhưng dùng máy của địch, có sợ địch cũng nghe thấy thông tin của ta không chú?
- Dù có nguy cơ bị nghe trộm - ông bảo - nhưng chúng có nghe được thì cũng muộn. Lệnh chỉ huy của ta đã được thực hiện xong hết rồi.”
Sau này, ông mạnh dạn báo cáo sáng kiến. Kết quả: ông chỉ bị… phê bình nhẹ, rồi được chính thức cho áp dụng. Cũng nhờ sự táo bạo ấy, ông được kết nạp Đảng ngay sau chiến thắng, và được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.
Tôi thầm nghĩ : Người lính nào vào Quảng Trị cũng xứng đáng đứng trong hàng ngũ ưu tú nhất của Tổ quốc.
Một đời lính – một tấm lòng
Sau ngày giải phóng, ông xuất ngũ hai năm rồi lại tái ngũ bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1978. Chiến tranh qua đi, sau 44 năm cống hiến trong quân đội và nhà nước, ông nghỉ hưu,rồi 6 năm liền ông là người bí thư chi bộ, trưởng ban công tác Mặt trận Tổ Quôc đầy giản dị khiêm nhường của tổ dân phố Hoàng Lâu Một .
Đến phong trào thực hiện đề án " Câu chuyện thời hoa lửa”, được mách, tôi mới biết mà tìm ông. Ông còn tham gia Ban Liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 101 – Sư đoàn 325, và đặc biệt, ông là người miệt mài đi tìm hài cốt đồng đội đưa về quê mẹ. Ba liệt sĩ được đưa về nghĩa trang Hồng Phong là niềm an ủi lớn với ông.
Trước khi tôi ra về, ông nói một câu làm tôi chẳng thể quên:“Chú còn may mắn lắm! Thương các đồng chí cũng từ chảo lửa ra, nhưng không được chuyển ngành. Giờ người vất vả mưu sinh, người nằm liệt vì bệnh tật… Thương lắm!
Tôi mong những dòng ghi chép còn vụng về này sẽ giúp các bạn trẻ An Phong hiểu thêm về một tronng những người anh hùng thầm lặng – không ở đâu xa, mà ngay giữa đời thường.
Một người lính lấy máy của địch để đánh địch.